Wed05232012

Last update07:45:16 PM

Thực phẩm Sản phẩm từ Bơ, Sữa Phân biệt sữa bột

Phân biệt sữa bột

  • PDF.

altNgày nay, chuyện hàng giả, hàng thật đã trở nên khá phổ biến. Người tiêu dùng phải tự phân biệt hoặc đến các cửa hàng uy tín mới có thể chọn được sản phẩm đảm bảo chất lượng...

Sữa bột "nguyên chất"

Sữa – từ gốc – có nghĩa là dịch lỏng màu trắng mà các loài có vú như bò cái, dê cái,… sản sinh ra làm thức ăn nuôi con nhỏ của chúng. Con người lấy sữa này dùng để uống và làm thành các sản phẩm khác như bơ, phô-mai… Sữa lỏng lúc tiết ra gọi là sữa nguyên kem hay sữa béo. Nếu tách phần chất béo ra thì thu được sữa gầy. Các loại sữa này đem sấy khô (tách nước ra) được các sản phẩm tương ứng là sữa bột nguyên kem (whole / fullcream milk powder hay Dry Whole Milk) và sữa bột gầy (skim milk powder/ Nonfat Dry Milk).

Bản thân sữa bột cũng được chế biến thành hai dạng. Dạng bột mịn (non-instant) dùng nhiều trong công nghiệp, khi pha vào nước khó tan hơn và dễ bị vón cục. Dạng hạt xốp (instant), dễ tan hơn, ứng dụng để sản xuất các sản phẩm dạng bột yêu cầu tan nhanh khi pha uống. Trên dây chuyền chế biến, sữa dạng hạt xốp được sản xuất từ sữa dạng bột mịn nên về chất lượng và thành phần dinh dưỡng của hai dạng này là tương đương, nhưng chi phí sản xuất loại thứ hai mắc hơn do có thêm công đoạn tạo hạt (agglomeration).

Thành phần chính của sữa bột bao gồm: chất đạm sữa, béo sữa, đường sữa và một số vitamin, khoáng chất với hàm lượng ít hơn.

Thành phần chính của sữa bột trên chỉ bao gồm: chất đạm sữa, chất béo sữa và đường sữa (lactose) chứ không có đường kính (sucrose) hay maltodextrin. Các thành phần này thường dao động theo mùa và theo vùng nuôi bò. Trong các thành phần chiếm tỷ lệ nhỏ như các chất khoáng, vitamin thì Canxi được nhắc đến nhiều hơn cả.

Thành phần chính của sữa bột tiêu biểu (%)

Loại sữa(Thành phần)

Sữa bột gầy

Sữa bột nguyên kem

Protein

34 - 37

24 - 28

Chất béo (milkfat)

0,6 - 1,25

26 - 40

Lactose

49 - 52

36 - 39

Độ ẩm

- Không quá 4,0 (non-instant)
- Không quá 5,0 (instant)

- Không quá 4,0 (non-instant)
- Không quá 5,0 (instant)

Sữa bột thương mại được sản xuất như thế nào?

Các nhà sản xuất hiện nay không còn ai mua sữa bột "nguyên chất" như trên về rồi "thuần túy" đóng gói vào bao bì nhỏ để bán cả. Các sản phẩm sữa thương mại trên thị trường đều là các "công thức" bao gồm thành phần chính là sữa bột được trộn với các thành phần thực phẩm khác không phải sữa. Nếu hỏi tại sao như thế thì có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ "đồng thanh": "Như vậy thì mới có lời chứ!" Đó cũng là một lý do; tuy nhiên, còn có một lý do khác mà chúng ta cũng nên biết: sữa bột cũng là một loại thực phẩm. Mà một thực phẩm "tốt" theo quan điểm kinh doanh hiện đại cần phải có tối thiểu các yếu tố như: hợp khẩu vị người dùng, có thành phần dinh dưỡng phù hợp đối tượng sử dụng: là trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ hay người lớn, người già, người bệnh hay vận động viên… và phải mang tính tiện dụng nữa. Người tiêu dùng thời nay có xu hướng thích một sản phẩm cho tất cả, nên việc mua riêng từng hũ sữa, hũ đường… để tự pha trộn lấy mà uống là điều… khó mà chấp nhận được.

Sữa giả

Có hai loại "giả" mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống. Kiểu thứ nhất là giả mạo, giả dối, lừa gạt để trục lợi và mang tính lén lút, ngoài vòng pháp luật; là hàng "giả" mà người làm, người bán nói là... hàng thật, hàng thứ phẩm nói là hàng cao cấp. Kiểu thứ hai là bắt chước, mô phỏng vì những lý do được người tiêu dùng và pháp luật cho phép, người dùng biết và được cho biết đó là đồ giả; ví dụ: các sản phẩm giả thịt từ đạm thực vật (đùi gà chay, heo quay chay,…); giả thịt từ đạm động vật như sản phẩm surimi trong thủy sản; các sản phẩm giả sữa được làm từ đạm đậu nành, dầu thực vật, các loại đường không phải lactose… Các sản phẩm này có hương vị, kết cấu, cấu trúc, màu sắc… và thậm chí thành phần dinh dưỡng giống "hàng thật" nhưng nguồn gốc hay bản chất thì khác.

Theo nghĩa này thì ta có thể xem "sữa giả" là bất kỳ loại sản phẩm sữa nào có một trong các đặc điểm sau:

Các sản phẩm sữa giả với chất lượng không đảm bảo khi sử dụng, người tiêu dùng dễ mắc các bệnh tiêu chảy, ngộ độc... ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và gia đình.

  • Cố ý không công bố đúng, đủ thành phần và hàm lượng các chất bổ sung vào. Các chất này thường bao gồm các nguyên liệu rẻ hơn sữa như: đường kính, maltodextrin, đường lactose, bột whey, thậm chí bột gạo, bột mì… Các sản phẩm này có thể đạt hoặc không đạt về hàm lượng các chất dinh dưỡng (chất đạm, chất béo), vi sinh, kim loại nặng...
  • Dùng các nguyên liệu không đạt tiêu chuẩn thực phẩm ăn trực tiếp mà dùng các nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu công nghiệp (thường có hàm lượng tạp chất, kim loại nặng, vi sinh quá mức cho phép).
  • Dùng các nguyên liệu đã hết hoặc cận hạn sử dụng, bị hư hỏng để sản xuất; hoặc tẩy xóa, in lại hạn sử dụng của sản phẩm, nguyên liệu.
  • Sản phẩm bị nhiễm bẩn do điều kiện sản xuất, đóng gói, bảo quản không đạt tiêu chuẩn.
  • Giả tuyệt đối: dùng các chất hóa học, chất màu, mùi để sản xuất ra sản phẩm giá rẻ đến cực rẻ, có trạng thái, mùi giống hệt sữa nhưng thành phần dinh dưỡng thì… không cần quan tâm.

Sữa thật, sữa giả…

Như vậy, việc trộn các nguyên liệu thực phẩm khác với sữa bột "nguyên chất" để tạo ra các sản phẩm sữa thương mại là điều tất yếu. Điều này không cần phải bàn cãi nữa và luật pháp cũng cho phép hay không cấm điều đó. Sự khác nhau cơ bản giữa thật – giả ở đây là dùng nguyên liệu gì để trộn vào và có công bố điều đó trên bao bì hay không. Cần nói thêm là: hiện nay có quá nhiều "kẽ hở" để những kẻ quá tham quá hóa vô lương tâm "lách" hoặc chẳng cần phải "lách" vì các cơ quan chuyên trách chưa có một cách thức cụ thể nào để kiểm soát triệt để hành động gian dối này.

Việc có nhiều cơ sở sản xuất hàng giả vẫn đang tiếp tục diễn ra, do đó người tiêu dùng phải biết tự bảo vệ mình, hãy đọc kỹ bao bì sản phẩm, sử dụng và bảo quản đúng theo hướng dẫn.

Việc cho phép các cơ sở sản xuất tự "công bố" thành phần công thức sản phẩm là một "con dao hai lưỡi". Một mặt nó có vẻ như giúp doanh nghiệp bỏ được thủ tục khi đăng ký chất lượng rườm rà và nâng cao được "trách nhiệm" đối với chất lượng sản phẩm của mình. Nhưng một mặt nó "cho phép" người ta chỉ công bố những cái "tự thấy cần thiết" và ém nhẹm những thứ người ta cảm thấy "không tiện nói ra".

Phải biết tự bảo vệ mình trước…

Trong bối cảnh hiện nay thì đây là câu mà thiết nghĩ mỗi chúng ta nên… thuộc nằm lòng. Chúng ta nên tạo thói quen đọc và hiểu các thông tin trên bao bì để:

  • Mua đúng loại sản phẩm mình cần.
  • Mua đúng sản phẩm của các công ty có uy tín.
  • Mua sản phẩm còn trong hạn dùng.
  • Biết cách dùng đúng và bảo quản sản phẩm, tránh hư hỏng khi mang về nhà.

Chúng ta cần phải cảnh giác, kiểm tra kỹ bao bì sản phẩm trước khi mua xem nội dung in có sắc sảo, rõ ràng và đầy đủ không. Hạn sử dụng có dấu hiệu sửa chữa, tô, in lại không. Sản phẩm có được bày bán ở nơi sạch sẽ, khô ráo, râm mát không. Trước khi dùng nên xem màu sắc, mùi vị sản phẩm có gì lạ không vì sản phẩm uy tín khi được lưu thông trên thị trường vẫn có nhiều lý do khiến nó trở nên không an toàn.

Sản phẩm đạt (ở dạng bột hoặc sau khi pha) ít nhất phải tơi rời, không vón cục, ngoại trừ các cục dễ vỡ ra khi búng nhẹ; có màu sắc trắng đến màu vàng kem, không có đốm màu lạ như: nâu, đen, xanh lợt,… mùi vị ngọt dịu, trong, không xốc, không có mùi ôi dầu, mùi mốc, mùi tanh, mùi xà phòng hoặc các mùi vị lạ khác. Sản phẩm phải được bao gói trong bào bì hàn kín (bóp không xì hơi), ngăn ẩm, ngăn khí và ngăn ánh sáng như bao nhôm phức hợp và lon sắt tây.